Dòng vốn hàng trăm tỷ USD đang đổ vào năng lượng tái tạo tại châu Á, nhưng sự lệch hướng trong phân bổ – ưu tiên công suất phát điện thay vì hạ tầng lưới và lưu trữ, đang khiến nhiều dự án rơi vào cảnh lãng phí. Nếu không sớm điều chỉnh, tài chính khí hậu có nguy cơ làm chậm, thậm chí đi ngược lại mục tiêu giảm phát thải của khu vực.
Bùng nổ tài chính nhưng phân bổ lệch hướng
Theo Nikkei Asia, tài chính khí hậu ở châu Á có thể đang gây hại nhiều hơn là mang lại lợi ích. Các nhà tài chính khí hậu châu Âu dường như đang thu hút sự chú ý tại châu Á. Chiến lược “Cổng thông tin toàn cầu” của Liên minh châu Âu, với mục tiêu huy động tới 300 tỷ euro (khoảng 350 tỷ USD) từ đầu tư công và tư nhân vào năm 2027, là một phần của nỗ lực đó.
Sau một năm 2024 trầm lắng, hoạt động phát hành trái phiếu xanh ở châu Á cũng đã tăng mạnh 56,5% trong năm 2025, đạt 154,72 tỷ USD, theo dữ liệu từ Trung tâm Tài chính và Phát triển Xanh.
Tuy nhiên, theo phân tích của ông Tim Daiss, người theo dõi các thị trường năng lượng, phát triển bền vững và địa chính trị tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong 15 năm qua, có một khía cạnh khác đang bị bỏ qua – đó là sự phân bổ vốn chưa hợp lý.
Dòng vốn hiện đang dồn vào các dự án mang tính “phô diễn” như mở rộng điện mặt trời và điện gió, nhằm tạo dấu ấn chính trị và giúp nhà đầu tư đạt chỉ tiêu, thay vì tập trung nâng cấp hệ thống điện để khai thác hiệu quả nguồn công suất này.
Theo ông Daiss, các nhà đầu tư nước ngoài dường như đang chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, ưu tiên các dự án mang lại lợi suất 12%-15% mỗi năm, thay vì đầu tư vào “xương sống” của hệ thống năng lượng: lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) và nâng cấp lưới điện.
Tình hình thậm chí còn nghiêm trọng hơn tại Đông Nam Á. Một nghiên cứu của Trung tâm Năng lượng ASEAN ước tính khu vực này cần khoảng 20 tỷ USD mỗi năm chỉ để hiện đại hóa lưới điện, nhằm tránh tình trạng “lãng phí năng lượng xanh” do phải cắt giảm công suất.
Nghiên cứu nêu bật hai quốc gia tiêu biểu, bắt đầu với Việt Nam. Ngay từ năm 2020, quá trình chuyển dịch sang năng lượng xanh của Việt Nam đã đạt những bước tiến kỷ lục. Chỉ trong vài năm, quốc gia gần 100 triệu dân này đã chuyển từ phụ thuộc nặng vào than đá sang trở thành nước dẫn đầu Đông Nam Á về sản xuất điện mặt trời và năng lượng tái tạo nói chung.
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), công suất điện mặt trời của Việt Nam đã tăng vọt từ mức gần như không đáng kể vào năm 2018 lên khoảng 16-17 gigawatt (GW) trong giai đoạn 2020-2021, trở thành thị trường điện mặt trời lớn nhất khu vực.
Ban đầu, điều này có vẻ rất thành công. Nhưng thực tế lại không hoàn toàn như vậy. Với mỗi GW điện mặt trời mới được đưa vào vận hành, tình trạng thiếu hụt năng lực lưới điện để hấp thụ lượng điện này lại càng rõ rệt.
Khi một dự án không thể bán được điện, nó không thể trả được các khoản vay dùng để xây dựng. Điều này không chỉ gây thiệt hại tài chính cho nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia tiếp nhận, khi không thể vận hành hiệu quả chính những dự án đã thu hút.
Hệ quả và lời giải cho bài toán năng lượng
Indonesia cũng đối mặt với vấn đề tương tự, thậm chí còn phức tạp hơn. Không phải toàn bộ công suất năng lượng tái tạo đều có thể được hấp thụ vào lưới điện, khiến nhà đầu tư e ngại. Theo OECD, công suất điện mặt trời của Indonesia chỉ khoảng 1,5 GW, chủ yếu tập trung tại hệ thống Java-Bali vốn đã dư cung, với tỷ lệ dự phòng vượt 30%, làm hạn chế khả năng tích hợp thêm nguồn điện biến đổi.
Những tình huống này thường dẫn đến việc các tài sản năng lượng bị lãng phí. Nhà đầu tư rót vốn vào các dự án điện mặt trời đã hoàn thiện về mặt pháp lý nhưng lại không hiệu quả về kinh tế. Các dự án này thường bị cắt giảm hoặc ngừng vận hành do các công ty điện lực quốc gia không thể tiếp nhận điện. Kết quả là tài chính khí hậu vô tình tài trợ cho những tài sản không hoạt động, thay vì thúc đẩy quá trình giảm phát thải như mục tiêu ban đầu.
Một phân tích gần đây của BloombergNEF cũng củng cố nhận định này. Báo cáo cho thấy tài chính khí hậu vẫn “tập trung nặng vào điện mặt trời” nhưng “thiếu đầu tư vào lưu trữ năng lượng”, với phần lớn vốn đổ vào sản xuất điện thay vì hệ thống lưu trữ pin (BESS). Thiếu BESS, công suất do các tổ chức Mỹ và EU tài trợ thực tế có thể gây mất ổn định lưới điện tại một số quốc gia Đông Nam Á.
Hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin cho phép tích trữ điện khi nhu cầu thấp hoặc khi nguồn cung dồi dào, sau đó xả điện khi cần để cân bằng cung – cầu, ổn định lưới điện và hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo.
BESS đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ các nguồn năng lượng không ổn định như điện mặt trời và điện gió, vốn không thể phát điện liên tục như các nhà máy nhiệt điện than hay khí. Đáng tiếc, các quỹ tài chính khí hậu hoặc chưa thực sự hiểu rõ điều này, hoặc cố tình tránh rủi ro để theo đuổi lợi nhuận cao hơn từ các dự án phát điện.

Đáng chú ý, theo báo cáo của Ember, năm 2024 là năm đầu tiên mà mức tăng trưởng của điện mặt trời và điện gió về mặt kỹ thuật đủ để đáp ứng toàn bộ nhu cầu điện toàn cầu trong điều kiện “bình thường”.
Tuy nhiên, các hiện tượng thời tiết cực đoan tại châu Á, đặc biệt là các đợt nắng nóng kỷ lục trong năm 2024 và 2025, đã khiến nhu cầu điện tăng bất thường khoảng 4% trên toàn khu vực. Do tài chính khí hậu hiện vẫn tập trung vào công suất phát điện thay vì quản lý nhu cầu và lưu trữ dài hạn, một số quốc gia đã buộc phải khởi động lại các nhà máy điện than đã ngừng hoạt động để tránh nguy cơ sụp đổ lưới điện.
Tài chính khí hậu – vốn nhằm giảm phát thải – lại đang tạo ra tác dụng ngược. Nó khiến các quốc gia quay trở lại với nhiên liệu hóa thạch và làm gia tăng lượng khí thải carbon. Trong khi các chuyên gia tại London hay Brussels quan tâm đến tổng sản lượng điện hàng năm, thì các nhà vận hành tại Hà Nội hay Jakarta lại phải đối mặt với bài toán ổn định lưới điện theo từng phút.
Ông Tim Daiss đưa ra giải pháp giảm đầu tư vào công suất phát điện và chuyển hướng sang cơ sở hạ tầng điện. Tài chính khí hậu đã phần nào nhận ra vấn đề. Chương trình Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng tại Việt Nam do EU hỗ trợ đã nhấn mạnh nhu cầu đầu tư vào nâng cấp lưới điện và lưu trữ năng lượng. Tuy nhiên, phần lớn nguồn vốn vẫn đang trong quá trình huy động và chưa được triển khai trên thực tế. Điều này cũng cần được mở rộng trên toàn khu vực.
“Trong thời gian chờ đợi, chính phủ các quốc gia cần chủ động hơn. Họ có thể áp trần đầu tư vào công suất điện mặt trời và điện gió, hoặc tốt hơn, yêu cầu việc nâng cấp lưới điện phải đi kèm với các dự án năng lượng tái tạo.



